海产智讯

Hiệp hội Thủy sản Việt Nam đề nghị EU làm rõ cách tính sản lượng xuất khẩu cá ngừ theo EVFTA

Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) đã gửi văn bản tới Cục Thủy sản và Kiểm ngư Việt Nam, phản đối phương pháp EU áp dụng để tính sản lượng xuất khẩu cá ngừ của Việt Nam theo EVFTA, chỉ ra rằng tỷ lệ 33,3% trong phân tích năm 2022 của EU không khớp với chính công thức của EU là 3,004/19,941 tấn (khoảng 15,1%), đồng thời yêu cầu làm rõ phạm vi sản phẩm, hình thức nguyên liệu và căn cứ tỷ lệ hao hụt chế biến.

Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) đã gửi văn bản tới Cục Thủy sản và Kiểm ngư Việt Nam, cung cấp thông tin và dữ liệu để giải trình với EU về quy tắc xuất xứ và sản lượng khai thác cá ngừ theo Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam – EU (EVFTA). VASEP chỉ ra rằng phương pháp EU sử dụng để tính tỷ lệ cá ngừ vây vàng khai thác trong nước dùng sản xuất cá ngừ phi lê đông lạnh xuất khẩu theo EVFTA chưa phản ánh đầy đủ thực tế sản xuất, chế biến và xuất khẩu.

Theo phân tích của EU được VASEP trích dẫn trong văn bản, năm 2022 Việt Nam xuất khẩu sang EU 3,004 tấn cá ngừ phi lê đông lạnh được hưởng ưu đãi thuế quan theo EVFTA, trong khi sản lượng khai thác cá ngừ vây vàng trong nước năm đó là 19,941 tấn. Trên cơ sở đó, EU cho rằng khoảng 33,3% sản lượng cá ngừ vây vàng khai thác của Việt Nam năm đó được xuất khẩu sang EU dưới dạng phi lê đông lạnh.

VASEP cho rằng đánh giá này chưa phản ánh đầy đủ thực tế sản xuất kinh doanh của ngành cá ngừ. Hiệp hội chỉ ra rằng nguyên liệu dùng chế biến sản phẩm xuất khẩu năm 2022 không nhất thiết là nguyên liệu khai thác cùng năm; việc thu mua, bảo quản, dự trữ và chế biến nguyên liệu diễn ra liên tục giữa các năm, do đó một phần sản phẩm xuất khẩu năm 2022 có thể được chế biến từ nguyên liệu khai thác năm 2021, sau khi nhập kho bảo quản để phục vụ sản xuất và xuất khẩu. Ngoài ra, việc chỉ đối chiếu sản lượng khai thác cá ngừ vây vàng của riêng năm 2022 với toàn bộ trọng lượng sản phẩm xuất khẩu cùng năm đã không tính đến yếu tố tồn kho, thời điểm chế biến cũng như chênh lệch giữa trọng lượng nguyên liệu và trọng lượng thành phẩm sau chế biến.

Văn bản cũng chỉ ra điểm không nhất quán trong tính toán của EU: tỷ lệ nêu trong phụ lục phân tích của EU là 33,3%, nhưng công thức mà EU đưa ra là 3,004/19,941 tấn, tương đương khoảng 15,1%; chỉ khi quy đổi 3,004 tấn thành phẩm thành 6,608 tấn nguyên liệu theo tỷ lệ hao hụt 2,2:1 mà EU giả định thì tỷ lệ mới đạt khoảng 33,1%. VASEP do đó yêu cầu làm rõ cơ sở và phương pháp tính toán, tránh nhầm lẫn giữa trọng lượng thành phẩm và trọng lượng nguyên liệu.

VASEP đồng thời yêu cầu làm rõ phạm vi sản phẩm mà phân tích của EU áp dụng, cụ thể là "cá ngừ phi lê đông lạnh" (frozen tuna fillets) và trọng lượng thống kê thuộc mã HS 0304.87 liệu chỉ bao gồm cá ngừ phi lê đông lạnh hay còn bao gồm các sản phẩm quy cách khác như loin, steak, saku, cube, tartar, burger. Quy trình chế biến và tỷ lệ thu hồi thành phẩm của các hình thức sản phẩm khác nhau là khác nhau, nên cần xác định cơ cấu sản phẩm trước khi áp dụng tỷ lệ hao hụt quy đổi.

Mặt khác, theo phản ánh của một số doanh nghiệp, phần lớn cá ngừ khi về đến nhà máy đã được sơ chế dạng GG (bỏ mang, bỏ nội tạng) trên biển, do đó cơ sở tính tỷ lệ thu hồi thành phẩm cần làm rõ là cá nguyên con hay nguyên liệu dạng GG. Dữ liệu thực tế do Hiệp hội đưa ra cho thấy: tỷ lệ nguyên liệu/thành phẩm đối với sản phẩm cá ngừ phi lê đông lạnh thường là 1,25:1 đến 1,5:1; sản phẩm loin là 1,5:1 đến 2,0:1; các quy cách steak, saku, cube là 2,0:1 đến 2,7:1. Các tỷ lệ trên phụ thuộc vào kích cỡ cá, chất lượng, hình thức nguyên liệu, mức độ sơ chế, yêu cầu kỹ thuật và quy trình sản xuất của từng nhà máy. Trên cơ sở đó, VASEP cho rằng việc EU áp dụng thống nhất tỷ lệ hao hụt 2,2:1 (tương ứng khoảng 55% hao hụt và phụ phẩm) thiếu căn cứ đầy đủ, không đủ để làm tỷ lệ chế biến bình quân cho toàn bộ cá ngừ phi lê đông lạnh xuất khẩu của Việt Nam thuộc mã HS 0304.87.

Về cơ cấu loài nguyên liệu, VASEP cho biết dựa trên dữ liệu hải quan và tình hình thực tế của một số doanh nghiệp, dữ liệu cá ngừ xuất khẩu sang EU cho thấy cá ngừ vây vàng là loài chính dùng sản xuất cá ngừ phi lê đông lạnh xuất khẩu sang EU; tuy nhiên, để xác định tỷ trọng chính xác của từng loài trong toàn bộ hàng xuất khẩu cần dựa trên hồ sơ nguyên liệu, sản xuất và xuất khẩu thực tế của doanh nghiệp. VASEP kiến nghị, trước khi có kết quả kiểm tra cụ thể về cơ cấu loài và quy cách sản phẩm, không nên mặc định toàn bộ sản phẩm xuất khẩu sang EU thuộc mã HS 0304.87 đều được chế biến từ cá ngừ vây vàng.

VASEP đề nghị Cục Thủy sản và Kiểm ngư nghiên cứu, tổng hợp các thông tin trên và sử dụng trong quá trình trao đổi, giải trình với EU, nhằm bảo đảm việc đánh giá dữ liệu, tỷ lệ hao hụt chế biến và xác định nguồn gốc nguyên liệu cá ngừ phù hợp với thực tế sản xuất kinh doanh và xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam.

Bình luận(0)

Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên.

Viết bình luận

Bình luận được duyệt trước khi hiển thị; nội dung không được duyệt sẽ không công khai.