海产智讯

Xuất khẩu thủy sản Việt Nam đạt 9,1 tỷ USD trong 9 tháng, thị trường Brazil tăng vọt 130,7% chỉ trong tháng 9

Theo thống kê của Hải quan Việt Nam, kim ngạch xuất khẩu thủy sản tháng 9/2026 đạt 1,13 tỷ USD, tăng 12% so với cùng kỳ năm trước, đưa tổng kim ngạch 9 tháng đầu năm lên 9,1 tỷ USD, tăng 11,5%. Brazil là thị trường có tốc độ tăng trưởng nổi bật nhất, tăng 130,7% chỉ trong tháng 9 và tăng 53,2% lũy kế 9 tháng.

Xuất khẩu thủy sản Việt Nam tiếp tục đà tăng trong 9 tháng đầu năm 2026. Theo thống kê của Hải quan Việt Nam, kim ngạch xuất khẩu thủy sản tháng 9/2026 đạt 1,13 tỷ USD, tăng 12% so với cùng kỳ năm 2025; kim ngạch lũy kế 9 tháng đầu năm đạt 9,1 tỷ USD, tăng 11,5% so với cùng kỳ.

Xét theo phân bố thị trường, trong kỳ, xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang nhiều thị trường như Trung Quốc, Hàn Quốc, Australia, Vương quốc Anh, Thái Lan, Canada, Brazil, Nga, Đài Loan (Trung Quốc), Đức và Hà Lan đều ghi nhận tăng trưởng. Trong đó, Brazil có tốc độ tăng trưởng nổi bật nhất: kim ngạch xuất khẩu tháng 9 tăng 130,7%, lũy kế 9 tháng tăng 53,2%.

Đối với những tháng cuối năm, thị trường Trung Quốc được đánh giá tích cực. Thị trường này có sức mua lớn, nhu cầu thủy sản thường tăng trước Tết Nguyên đán; các nhóm hàng được kỳ vọng có nhu cầu cao bao gồm tôm tươi sống, tôm đông lạnh, cá basa (tươi sống và chế biến), cua và các sản phẩm thủy hải sản cao cấp. Đồng thời, nguồn cung trong nước của Trung Quốc đã phục hồi từ tháng 9, giá tôm nhập khẩu từ Ecuador có tính cạnh tranh, có thể làm gia tăng áp lực cạnh tranh về giá.

Tại thị trường ASEAN và Hàn Quốc, nhu cầu tương đối ổn định, tập trung vào cá thịt trắng, thủy sản đông lạnh tiện lợi và tôm thẻ chân trắng cỡ nhỏ và cỡ trung. Thị trường Mỹ có xu hướng ưa chuộng các sản phẩm có giá hợp lý; đối với các sản phẩm thủy sản đóng hộp như cá ngừ, cá thu và cá basa, được cho là có lợi thế hơn trong bối cảnh người tiêu dùng thắt chặt chi tiêu; nhu cầu tôm nhập khẩu còn chịu ảnh hưởng của chính sách kiểm soát tồn kho và tâm lý thận trọng trước các quy định kỹ thuật, quy định chống bán phá giá.

Về phía EU, các yêu cầu về chứng nhận xanh, phát thải thấp và truy xuất nguồn gốc ngày càng được chú trọng; Nhật Bản thì ưu tiên tối ưu hóa chi phí nhập khẩu.

Trong bối cảnh đó, kiểm soát chi phí, nâng cao chất lượng, bảo đảm truy xuất nguồn gốc và đa dạng hóa thị trường được xem là những yếu tố quan trọng để các doanh nghiệp thủy sản Việt Nam duy trì đà tăng trưởng trong những tháng cuối năm 2026.

Bài viết do Bình Nguyên ký tên, đăng ngày 22 tháng 10 năm 2026 lúc 11 giờ 37 phút.