海产智讯

Nông dân Quảng Ngãi, Việt Nam chuyển sang nuôi cá mú, 17 lồng bè bán 20 tấn/năm, lợi nhuận 1,6 tỷ đồng

Nông dân Đỗ Văn Được tại phường Sa Huỳnh, Quảng Ngãi, Việt Nam chuyển từ kinh doanh con giống tôm hùm sang nuôi cá mú thương phẩm, hiện có 17 lồng bè, sản lượng khoảng 20 tấn/năm, giá bán khoảng 200.000 đồng/kg, lợi nhuận khoảng 1,6 tỷ đồng/năm, đồng thời duy trì hoạt động thu mua, vận chuyển con giống tôm hùm và thuê khoảng 40 lao động địa phương.

Nông dân Đỗ Văn Được tại phường Sa Huỳnh, tỉnh Quảng Ngãi, Việt Nam, sau khi chuyển từ nuôi tôm hùm sang nuôi cá mú thương phẩm, hiện sở hữu 17 lồng bè nuôi cá mú thương phẩm, mỗi năm xuất bán khoảng 20 tấn cá, tính theo giá bình quân khoảng 200.000 đồng/kg, doanh thu hằng năm của hoạt động nuôi này đạt khoảng 4 tỷ đồng, lợi nhuận khoảng 1,6 tỷ đồng, trở thành nguồn thu chính từ nuôi trồng thủy sản của gia đình ông. Tạp chí Thủy sản Việt Nam đưa tin về trường hợp này ngày 22 tháng 10.

Ông Đỗ Văn Được kinh doanh con giống tôm hùm đã hơn mười năm, cung cấp con giống tôm hùm cho các hộ nuôi dọc vùng ven biển. Quá trình giao dịch giúp ông hiểu rõ hơn về thị trường thủy sản cũng như điều kiện nuôi trồng tại vùng biển Sa Huỳnh. Khởi đầu từ việc cung cấp con giống, ông đầu tư hai lồng bè nuôi tôm hùm thương phẩm, mong muốn tăng thêm thu nhập từ hoạt động trên biển.

Tuy nhiên, khu vực ông nuôi nằm trong vùng neo đậu tàu thuyền, nhiệt độ nước và điều kiện môi trường có thể không thuận lợi cho đối tượng nuôi. Sau một thời gian nuôi thực tế, ông nhận định việc tiếp tục mở rộng diện tích nuôi tôm hùm tại khu vực này tiềm ẩn nhiều rủi ro, nên chuyển sang tìm hiểu các loài thủy sản khác có khả năng thích nghi tốt hơn.

Sau khi cân nhắc, ông chọn cá mú để nuôi thử. Ban đầu chỉ có hai lồng bè, ông dần theo dõi khả năng sinh trưởng, mức đầu tư và hiệu quả kinh tế của cá mú, sau đó mới quyết định mở rộng quy mô. Kết quả ban đầu cho thấy cá mú thích nghi với điều kiện vùng biển địa phương, đồng thời mang lại hiệu quả khá khả quan, từ đó ông chuyển trọng tâm sang loài này.

Theo ông Đỗ Văn Được chia sẻ với báo chí, so với tôm hùm, cá mú không đòi hỏi kỹ thuật quá khắt khe, chu kỳ nuôi khoảng một năm và có thể linh hoạt điều chỉnh theo tình hình tiêu thụ. Khi thị trường bất lợi, người nuôi có thể tiếp tục giữ đàn cá, chờ thời điểm bán phù hợp, với điều kiện bảo đảm chăm sóc và chịu được các chi phí phát sinh.

Ngoài nuôi cá mú, ông vẫn duy trì hoạt động thu mua, vận chuyển và cung cấp con giống tôm hùm. Để phục vụ công việc này, ông đầu tư xe vận chuyển chuyên dụng, xuồng nhỏ và trang thiết bị cần thiết. Hoạt động này mang lại thu nhập bổ sung, đồng thời phát huy kinh nghiệm và mạng lưới khách hàng mà ông tích lũy từ những năm đầu hành nghề.

Từ cách làm của gia đình ông Đỗ Văn Được có thể thấy, việc lựa chọn đối tượng nuôi cần phù hợp với điều kiện môi trường cụ thể, khả năng đầu tư và đầu ra sản phẩm. Những loài có giá trị thương mại cao chưa chắc phù hợp với mọi vùng nuôi, hiệu quả còn phụ thuộc vào khả năng thích nghi của đối tượng nuôi cũng như cách thức tổ chức sản xuất kinh doanh của người nuôi.

Đối với cá mú, việc điều chỉnh thời điểm thu hoạch giúp người nuôi chủ động hơn khi đối mặt với biến động thị trường. Tuy nhiên, kéo dài thời gian lưu nuôi cũng đồng nghĩa với chi phí thức ăn, chăm sóc và duy trì lồng bè tăng lên, nên quyết định hoãn thu hoạch cần dựa trên tình trạng đàn cá, khả năng chịu tải của hệ thống nuôi và năng lực tài chính của gia đình.

Kinh nghiệm của ông Đỗ Văn Được còn cho thấy kinh nghiệm ở khâu cung cấp con giống có thể trở thành lợi thế để phát triển nuôi cá thương phẩm. Việc không phụ thuộc hoàn toàn vào một nguồn thu, kết hợp các khâu liên quan trong chuỗi thủy sản, giúp gia đình tận dụng nguồn lực sẵn có và giữ được sự linh hoạt trong kinh doanh.

Hiện ông tiếp tục duy trì cả hai hoạt động, đồng thời tạo việc làm cho khoảng 40 lao động địa phương.