Bộ Nông nghiệp và Môi trường Việt Nam ban hành văn bản số 11812: yêu cầu các tỉnh, thành phố ven biển phân loại và kiểm soát tàu cá có nguy cơ cao vi phạm IUU
Tháng 10 năm 2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường Việt Nam ban hành văn bản số 11812/BNNMT-TSKN, yêu cầu các tỉnh, thành phố ven biển đối chiếu từng tàu cá với thông tin trong cơ sở dữ liệu nghề cá quốc gia, phân loại và xử lý tàu cá không có giấy phép và tàu cá "ba không", đồng thời tăng cường giám sát VMS, truy xuất nguồn gốc điện tử eCDT và kiểm tra sản lượng tại cảng.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường Việt Nam đã ban hành văn bản số 11812/BNNMT-TSKN gửi Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố ven biển có tàu cá, yêu cầu tập trung thực hiện các biện pháp tăng cường quản lý đội tàu, kiểm soát hoạt động khai thác và truy xuất nguồn gốc thủy sản khai thác. Văn bản này được đưa tin vào tháng 10 năm 2026.
Văn bản được ban hành nhằm triển khai nhiều chỉ đạo cấp trên, bao gồm: Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 10 tháng 4 năm 2024 của Ban Bí thư, Nghị quyết số 52/NQ-CP ngày 22 tháng 4 năm 2024 của Chính phủ, Công điện số 34/CĐ-TTg ngày 25 tháng 4 năm 2026 của Thủ tướng Chính phủ, và Quyết định số 1516/QĐ-TTg ngày 10 tháng 8 năm 2026 của Thủ tướng Chính phủ — quyết định này liên quan đến việc khắc phục các khuyến nghị sau đợt kiểm tra lần thứ năm của Ủy ban châu Âu (EC) về chống khai thác IUU.
Về rà soát thông tin đội tàu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường yêu cầu các tỉnh, thành phố ven biển đối chiếu, kiểm tra thông tin tàu cá trong hồ sơ quản lý địa phương với Cơ sở dữ liệu nghề cá quốc gia (VNFishbase). Các thông tin như đăng ký, kiểm tra (đối với tàu thuộc diện phải kiểm tra), giấy phép khai thác, thiết bị giám sát hành trình (VMS) và trạng thái hoạt động thực tế của mỗi tàu đều phải được cập nhật đầy đủ, kịp thời và chính xác. Trên cơ sở đó, các địa phương phải phân định rõ tàu cá đủ điều kiện hoạt động, tàu cá chưa đủ điều kiện, tàu cá đã ngừng hoạt động, tàu cá đã xóa đăng ký và các trường hợp khác cần quản lý theo quy định; việc phân loại phải gắn với tình trạng pháp lý và thực tế của từng tàu, làm căn cứ xác định biện pháp quản lý tương ứng.
Đối với tàu cá chưa được cấp giấy phép khai thác, giấy phép đã hết hạn hoặc thông tin giấy phép không khớp với hồ sơ quản lý, các địa phương phải khẩn trương rà soát, phân loại và hướng dẫn chủ tàu hoàn thiện hồ sơ. Việc giải quyết thủ tục hành chính cấp giấy phép khai thác phải bảo đảm thành phần, trình tự, điều kiện và thẩm quyền phù hợp với Nghị định số 41/2026/NĐ-CP và các quy định pháp luật liên quan, không được tự ý bổ sung thủ tục, giấy tờ hoặc điều kiện ngoài quy định. Đối với tàu không đủ điều kiện cấp giấy phép khai thác, phải tổ chức quản lý, giám sát chặt chẽ, không để tiếp tục hoạt động khai thác trái phép.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường đồng thời yêu cầu các địa phương lập danh sách, quản lý chặt chẽ tàu cá có nguy cơ cao vi phạm khai thác IUU, tàu chưa đăng ký, chưa được cấp giấy phép và tàu thuộc diện phải theo dõi, giám sát. Đối với mỗi tàu, cơ quan chức năng phải chỉ định cụ thể đơn vị và cá nhân chịu trách nhiệm theo dõi, xác định rõ tình trạng pháp lý, chủ tàu, vị trí neo đậu và biện pháp quản lý tương ứng. Đối với tàu cá "ba không" (không đăng ký, thuộc diện phải kiểm tra nhưng chưa kiểm tra, không có giấy phép khai thác), các địa phương phải xác minh hiện trạng, nguyên nhân chưa đáp ứng điều kiện và áp dụng biện pháp quản lý, xử lý phù hợp theo pháp luật, không để tàu không đủ điều kiện tiếp tục khai thác trái phép.
Về khâu cảng và truy xuất nguồn gốc, văn bản yêu cầu thực hiện nghiêm việc khai báo, tiếp nhận và cập nhật thông tin tàu cá rời cảng, vào cảng, đồng thời nhập thông tin liên quan vào Hệ thống truy xuất nguồn gốc thủy sản khai thác điện tử (eCDT) theo quy định. Các địa phương phải thường xuyên đối chiếu dữ liệu eCDT với hồ sơ cảng cá, thông tin quản lý tàu cá và kết quả kiểm tra của lực lượng chức năng; đối với các trường hợp thiếu dữ liệu, sai lệch, trùng lặp hoặc thông tin không thống nhất, phải kịp thời xác minh, xử lý hoặc chuyển cơ quan có thẩm quyền xử lý.
Văn bản cũng yêu cầu tăng cường kiểm tra, giám sát sản lượng thủy sản thực tế bốc dỡ qua cảng. Sản lượng ghi nhận phải được đối chiếu với nhật ký khai thác, dữ liệu kiểm soát tàu cá ra vào cảng, thông tin VMS và dữ liệu hệ thống eCDT. Việc cấp giấy xác nhận nguyên liệu thủy sản khai thác và giấy chứng nhận nguồn gốc thủy sản khai thác phải bảo đảm đúng điều kiện, hồ sơ, trình tự, thủ tục và thẩm quyền theo quy định tại văn bản hợp nhất số 80/2026/VBHN-TT-BNNMT. Đối với các trường hợp có dấu hiệu bất thường về thời gian khai thác, hành trình, loài thủy sản, sản lượng, địa điểm bốc dỡ, hoặc có sự khác biệt giữa thực tế, hồ sơ và dữ liệu liên quan, phải tập trung kiểm tra, xác minh.
Về VMS, các địa phương phải kiểm tra, phân loại chính xác trạng thái lắp đặt và vận hành thiết bị của từng tàu thuộc diện phải lắp đặt theo quy định. Các trường hợp chưa lắp đặt, thiết bị hỏng, mất kết nối, không duy trì dịch vụ, hoặc có dấu hiệu can thiệp, làm vô hiệu hóa thiết bị phải được làm rõ. Cơ quan chức năng phải tăng cường khai thác dữ liệu VMS để phát hiện và xác minh các trường hợp tàu mất kết nối khi hoạt động trên biển, có dấu hiệu vượt ranh giới, không duy trì truyền dữ liệu theo quy định hoặc hành trình bất thường. Đối với các trường hợp có dấu hiệu bất thường, việc xác minh phải gắn với thông tin quản lý tàu và dữ liệu liên quan, nhằm kịp thời phát hiện nguy cơ vi phạm và xử lý theo pháp luật.
Ngoài ra, các địa phương phải phối hợp kiểm tra việc chấp hành quy định của các tổ chức, cá nhân thu mua, tiếp nhận, bảo quản, vận chuyển, chế biến và các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản sử dụng nguyên liệu khai thác nhập khẩu. Đối với các trường hợp thủy sản nhập khẩu có nguồn gốc bất thường, hoặc liên quan đến tàu cá nước ngoài vào cảng Việt Nam theo Hiệp định về biện pháp của quốc gia có cảng (PSMA), phải phối hợp kiểm tra, xác minh và xử lý theo thẩm quyền.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố ven biển có tàu cá thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, kịp thời khắc phục những tồn tại, hạn chế trong quá trình thực hiện. Kết quả thực hiện phải được thể hiện bằng hồ sơ, tài liệu có thể kiểm chứng và dữ liệu được cập nhật đầy đủ, chính xác trên các hệ thống quản lý. Khi gặp khó khăn, vướng mắc, các địa phương chủ động xử lý theo thẩm quyền; đối với vấn đề vượt thẩm quyền, tổng hợp báo cáo Bộ (qua Cục Thủy sản và Kiểm ngư) để phối hợp nghiên cứu, xử lý theo quy định.
