海产智讯

Tạp chí Thủy sản Việt Nam phân tích bệnh TPD ở tôm: giai đoạn PL4–PL7 dễ nhiễm nhất, tỷ lệ chết có thể đạt 90%–100% trong vòng 24–72 giờ sau khi xuất hiện triệu chứng

Tạp chí Thủy sản Việt Nam ngày 21 tháng 10 năm 2026 đăng bài giới thiệu có hệ thống về bệnh tôm trong suốt (TPD) do vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus độc lực cao VpTPD gây ra, tổng hợp về tác nhân gây bệnh, đặc điểm dịch tễ học, phương pháp chẩn đoán và các biện pháp phòng chống ở từng khâu nuôi.

Tạp chí Thủy sản Việt Nam (Thuy san Viet Nam) ngày 21 tháng 10 năm 2026 đăng bài viết kỹ thuật, trình bày một cách hệ thống về nhận diện và phòng chống bệnh tôm giống trong suốt (Translucent Post Larvae Disease, TPD, còn gọi là bệnh đục hậu ấu trùng hay bệnh hậu ấu trùng trong suốt GPD). Bài viết nêu rõ, bệnh này do một chủng Vibrio parahaemolyticus có độc lực cao gây ra, chủng này được gọi là VpTPD, có thể sản sinh hệ thống độc tố phức hợp, làm tổn thương và phá hủy tế bào đường tiêu hóa của tôm giống, trong đó VHVP-2 (Vibrio High Virulent Protein) được xác định là yếu tố độc lực then chốt.

Về đặc điểm dịch tễ học, bài viết xác định rõ bệnh này chủ yếu xảy ra ở tôm thẻ chân trắng. Giai đoạn nhiễm bệnh nặng nhất là giai đoạn hậu ấu trùng, tôm nhạy cảm nhất ở giai đoạn PL4–PL7, kéo dài đến giai đoạn vừa thả nuôi (PL15), từ PL30 trở lên độ nhạy cảm giảm dần. Bệnh phát triển rất nhanh: tỷ lệ chết có thể đạt khoảng 60% vào ngày thứ hai sau khi xuất hiện triệu chứng, và trong vòng 24–72 giờ tỷ lệ chết có thể tăng lên 90%–100%. Đường lây truyền là lây truyền ngang, bao gồm qua nguồn nước chứa vi khuẩn trong ao ương giống, thức ăn tươi sống và ô nhiễm chéo cơ học do dụng cụ dùng chung tại trại ương giống.

Về biểu hiện bệnh lý, các dấu hiệu sớm liên quan đến ăn uống và hoạt động: tôm đột ngột giảm ăn, bơi yếu, phản ứng chậm chạp, sau đó giảm hoạt lực và có thể tập trung ở đáy ao; khi bệnh tiến triển, tỷ lệ tôm yếu và tôm chết tăng nhanh. Tổn thương điển hình là gan tụy teo nhỏ, nhợt nhạt và mất màu hoàn toàn, dạ dày và ruột hoàn toàn trống rỗng; đặc điểm nhận diện quan trọng nhất là toàn thân tôm mất sắc tố, do mô cơ thoái hóa nhanh chóng chuyển sang trắng đục, trong suốt như thủy tinh. Tổn thương vi thể biểu hiện là hoại tử cấp tính và bong tróc diện rộng của biểu mô ống gan tụy và đoạn giữa ruột, vi khuẩn xâm nhập sâu vào mô lót niêm mạc.

Về chẩn đoán, do triệu chứng dễ nhầm lẫn với bệnh hoại tử gan tụy cấp tính (AHPND) và bệnh do vi bào tử trùng (EHP), để chẩn đoán xác định TPD cần dựa vào xét nghiệm sinh học phân tử, sử dụng kỹ thuật multiplex PCR để tìm các đoạn gen vhvp1 và vhvp-2 mã hóa độc tố. Đối với tôm giống nghi mắc bệnh, mẫu nên được cố định sớm bằng ethanol 90%–95% để bảo vệ DNA trong quá trình bảo quản và vận chuyển, sau đó gửi đến phòng xét nghiệm đạt quy định, các yêu cầu liên quan được quy định tại khoản 19, 20, 21 Điều 1 Thông tư số 12/2024/TT-BNNPTNT.

Bài viết nhấn mạnh, TPD diễn biến phức tạp, lây lan nhanh, hiện chưa có phương pháp điều trị hiệu quả, các biện pháp phòng chống và an toàn sinh học là phương án tối ưu hiện nay.

Đối với trại nuôi tôm bố mẹ, nguồn nước phải được lọc qua lưới để loại bỏ vật chủ trung gian, sau đó khử trùng bằng clo, i-ốt, tia cực tím hoặc lọc tinh để tiêu diệt mầm bệnh trước khi vào hệ thống sản xuất, chất lượng nước sau xử lý phải đạt quy định. Tôm bố mẹ chỉ nên sử dụng cá thể không mang mầm bệnh đặc hiệu (SPF), nguồn gốc rõ ràng, việc quản lý và sử dụng phải tuân thủ Thông tư số 16/2026/TT-BNNMT ngày 9 tháng 3 năm 2026 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường Việt Nam (về quản lý giống thủy sản, thức ăn thủy sản, sản phẩm xử lý môi trường nuôi trồng thủy sản) và Thông tư số 03/2026/TT-BNNMT ngày 13 tháng 1 năm 2026 (về kiểm dịch động vật thủy sản và sản phẩm động vật thủy sản) cùng các quy định liên quan. Về thức ăn, nên sử dụng thức ăn công nghiệp và thức ăn tự chế đạt chất lượng, nguồn gốc rõ ràng, bảo quản đúng quy cách, không được mốc hoặc nhiễm khuẩn; đối với thức ăn tươi sống (như giun nhiều tơ, mực, hàu, v.v.) phải xử lý thích hợp và kiểm soát mầm bệnh, khi cần thiết ưu tiên xét nghiệm PCR để đảm bảo không mang mầm bệnh trước khi cho ăn. Thuốc, hóa chất và sản phẩm xử lý môi trường nuôi trồng thủy sản phải được sử dụng theo quy định của Bộ Nông nghiệp và Môi trường.

Đối với trại sản xuất và ương dưỡng tôm giống, nguồn nước phải được khử trùng triệt để, có thể kết hợp lọc cơ học với các phương pháp khử trùng phù hợp như clo, ozone hoặc tia cực tím, sau xử lý phải kiểm tra chất lượng nước và đảm bảo các thông số đạt chuẩn trước khi đưa vào ao, giảm nguy cơ vi khuẩn Vibrio và các yếu tố gây bệnh xâm nhập hệ thống từ nguồn. Ao, đường ống, vợt, xô và các dụng cụ tiếp xúc với tôm hoặc nước nuôi phải được vệ sinh khử trùng trước và sau mỗi lứa sản xuất, nên bố trí dụng cụ riêng theo khu vực hoặc nhóm ao để giảm dùng chung giữa các ao có tình trạng sức khỏe khác nhau; quy trình vệ sinh phải loại bỏ chất hữu cơ trước rồi mới khử trùng để nâng cao hiệu quả xử lý và hạn chế lây nhiễm chéo giữa các ao. Trứng và ấu trùng zoea được xử lý theo quy trình kỹ thuật để giảm vi khuẩn bám trên bề mặt, có thể dùng dung dịch formalin (100–200 ppm) hoặc i-ốt (1–2 ppm), sau xử lý phải quan sát sức khỏe ấu trùng và chất lượng nước trước khi chuyển sang công đoạn tiếp theo. Về quản lý sức khỏe tôm giống, phải duy trì dinh dưỡng hợp lý, đảm bảo đầy đủ vitamin, khoáng chất và các dưỡng chất theo giai đoạn phát triển, đồng thời giảm các yếu tố gây stress như thay đổi môi trường đột ngột, mật độ quá cao hoặc thao tác không đúng, đặc biệt ở giai đoạn PL nhỏ. Giám sát môi trường phải kiểm tra oxy hòa tan (DO), pH, độ kiềm, nhiệt độ và khí độc theo tần suất phù hợp với hệ thống, kịp thời tìm nguyên nhân và điều chỉnh khi thông số biến động, tránh để tôm bị stress kéo dài; đồng thời quan sát lượng ăn, hoạt động bơi, màu sắc cơ thể, ruột và tỷ lệ chết để phát hiện bất thường sớm. Về giám sát chủ động và xét nghiệm, cần định kỳ xét nghiệm đàn tôm giống trong quá trình sản xuất, đặc biệt ở giai đoạn nguy cơ cao, kết quả xét nghiệm giúp đánh giá tình trạng đàn, kiểm soát nguy cơ lây lan mầm bệnh và cung cấp căn cứ cho việc chọn đàn trước khi bán hoặc chuyển ao. Về quản lý chất thải, tôm chết, xác ấu trùng, thức ăn thừa và chất thải phát sinh từ ao bệnh phải được thu gom riêng, không để lan sang các khu vực sản xuất khác, nước thải và chất thải phải được xử lý thích hợp trước khi xả thải.

Đối với ao nuôi tôm thương phẩm, nên ưu tiên chọn tôm giống khỏe mạnh, nguồn gốc rõ ràng, từ các trại sản xuất hoặc ương dưỡng đáp ứng yêu cầu kiểm dịch và an toàn dịch bệnh, đồng thời lưu hồ sơ nguồn gốc giống, tình trạng sức khỏe và kết quả xét nghiệm để phục vụ truy xuất và truy nguyên. Về quản lý nguồn nước, phải bố trí ao lắng và ao xử lý nước riêng trước khi cấp nước vào khu nuôi, nước được lọc và xử lý thích hợp để giảm nguy cơ mầm bệnh xâm nhập ao; hệ thống cấp và thoát nước nên thiết kế tách riêng, định kỳ thu gom chất thải, giảm tích tụ chất hữu cơ và mầm bệnh ở đáy ao; ao có hệ thống xi phông đáy phải vận hành hợp lý, vừa loại bỏ chất thải vừa tránh xáo trộn môi trường quá mức.